Suy niệm Tin mừng Ga 12,1-11, Thứ Hai Tuần Thánh. Có lẽ lời nhắn nhủ của Chúa Giêsu đã thức tỉnh bà: "Mácta! Mácta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá chỉ có một điều cần mà thôi!…" (Lc 10,41-42), kể từ hôm ấy tinh thần phục vụ của Mácta đã lớn lên vượt
Người công chính như cây dừa, cây hương bá Li-Băng được trồng nơi nhà Chúa (Tv 92,13) Tin mới nhất. Thắng Thua. Tin đọc nhiều. Hội các Bà Mẹ Gx Thổ Hoàng - Khóa Tĩnh Huấn 2013.
Hỏi: Thưa cha, các bài đọc trong thánh lễ được sắp xếp như thế nào ? Thỉnh thoàng người phụ trách phụng vụ phân công con đọc sách thánh, con không biết tìm bài đọc nào cho đúng. lẽ của niên lịch) các bài đọc 1. Riêng bài Tin Mừng thì đọc theo trật tự: Mác-cô
Đọc và suy niệm Tin Mừng ngày trong tuần XXIV Thường Niên, 2017, Đan Viện Phước Lý "Tôi nói cho các ông hay: ngay cả trong dân Ít-ra-en, tôi cũng chưa thấy một người nào có lòng tin mạnh như thế." Về đến nhà, những người đã được sai đi thấy người nô lệ đã khỏi
0:00 / 0:00. 0:00. (PLO)- Ngay cả những cuộc hành trình vĩ đại nhất cũng phải có lúc kết thúc. Và cuối cùng thời điểm HLV Park Hang-seo chia tay bóng đá Việt Nam đã đến. Như vậy là sau năm năm phụng sự và liên tục đưa bóng đá Việt Nam lên tầm cao mới, HLV Park Hang-seo đã chia
I. ĐỌC TIN MỪNG: Mt 10,6-15 chúng ta vẫn mơ tưởng là phải đến nơi nào đó xa xôi băng rừng vượt suối để rao giảng Tin Mừng, nhưng lại quên mất rằng ngay bên cạnh nhà chúng ta đang ở, bạn cùng lớp chúng ta đang học, người cùng phòng chúng ta nơi công sở, làng xóm bên
Khi chia sẻ tin mừng, chúng ta không chỉ chú ý đến điều mình nói mà còn cách mình nói. Đọc 2 Ti-mô-thê 2:24 và 1 Phi-e-rơ 3:15, rồi thảo luận các câu hỏi sau: Khi nói với người khác về Kinh Thánh, bạn có thể áp dụng những câu này như thế nào?
Thật đáng tiếc khi đọc lời của Thánh Gioan được viết trong sách Tin Mừng: "Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận." Người ở đây là Ngôi Hai Thiên Chúa, là Chúa Giêsu. Khi đọc tiếp vế thứ hai, con cảm thấy được ấm lòng: "Còn những ai đón nhận, thì Người ban cho họ quyền trở
Vay Tiền Cấp Tốc Online Cmnd. Trong buổi đọc Kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật 13/3, ĐTC khuyến khích các tín hữu tỉnh thức trong những giây phút quan trọng trong cuộc sống hằng ngày. Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha trước khi đọc Kinh Truyền Tin Anh chị em thân mến, chào anh chị em! Tin Mừng Phụng vụ Chúa nhật thứ hai Mùa Chay thuật lại cuộc Biến hình của Chúa Giêsu x. Lc 9,28-36. Trong khi cầu nguyện trên núi, Người biến đổi dung mạo, áo Người trở nên sáng chói, và trong ánh sáng vinh quang của Người, Mô-sê và Ê-li-a xuất hiện, đàm đạo với Ngài về Cuộc Vượt Qua đang chờ đợi Người ở Giê-ru-sa-lem, tức là cuộc khổ nạn, chết và sống lại của Người. Nhân chứng của sự kiện phi thường này là các tông đồ Phêrô, Gioan và Giacôbê, những người đã cùng leo núi với Chúa Giê-su. Và chắc chắn là như thế; nhưng Thánh sử Luca lưu ý rằng “Phêrô và đồng bạn thì ngủ mê mệt” và “khi thức dậy” thì họ đã thấy vinh quang của Chúa Giê-su x. câu 32. Giấc ngủ của ba môn đệ như một nốt nhạc lạc tông. Sau đó, chính các tông đồ này cũng sẽ ngủ tại vườn Ghết-sê-ma-nê, trong giờ phút cầu nguyện thống thiết của Chúa Giêsu, Người đã bảo họ canh thức x. Mc 14,37-41. Sự buồn ngủ này khiến chúng ta kinh ngạc trong những thời khắc quan trọng như vậy. Nhưng đọc kỹ, chúng ta thấy rằng Phêrô, Gioan và Giacôbê ngủ trước khi bắt đầu cuộc biến hình, tức là trong chính lúc Chúa Giê-su đang cầu nguyện. Rõ ràng đó là câu hỏi về việc cầu nguyện đã diễn ra trong một thời gian dài, trong thinh lặng và hồi tâm. Chúng ta có thể nghĩ rằng lúc đầu họ cũng cầu nguyện, cho đến khi sự mệt mỏi, buồn ngủ, xâm chiếm. Anh chị em thân mến, chẳng phải giấc ngủ không hợp lúc như thế này tương tự với rất nhiều cơn buồn ngủ đến với chúng ta trong những thời điểm mà chúng ta biết là quan trọng sao? Có thể là buổi tối, khi chúng ta muốn cầu nguyện, muốn dành một chút thời gian với Chúa Giê-su sau một ngày với hàng ngàn cuộc chạy đua và công việc; hoặc lúc chúng ta muốn trao đổi vài lời với gia đình nhưng lại không còn sức nữa. Chúng ta mong muốn mình phải tỉnh táo, chăm chú, tham gia hơn nữa, không để vuột mất những cơ hội quý giá nhưng chúng ta không thể hoặc một chút không thể ở một khía cạnh nào đó. Thời gian cô đặc của Mùa Chay là một cơ hội theo nghĩa này. Đó là thời điểm mà Chúa muốn đánh thức chúng ta khỏi sự uể oải bên trong. Hãy tỉnh thức khỏi cơn mê ngủ bên trong, bởi vì - hãy nhớ kỹ - giữ cho trái tim tỉnh thức không chỉ phụ thuộc vào chúng ta đó là một ân sủng, và phải được cầu xin. Ba môn đệ trong Tin Mừng minh chứng điều này họ là những người tốt lành, đã theo Chúa Giêsu lên núi, nhưng với sức riêng, họ không thể nào tỉnh thức được. Nhưng họ thức dậy đúng lúc Chúa Biến hình. Chúng ta có thể thấy rằng chính ánh sáng của Chúa Giê-su đã đánh thức họ. Giống như họ, chúng ta cũng cần ánh sáng của Thiên Chúa, khiến chúng ta nhìn mọi thứ theo cách khác; nó thu hút chúng ta, đánh thức chúng ta, khơi dậy mong muốn và sức mạnh để cầu nguyện, nhìn vào nội tâm và dành thời gian cho người khác. Chúng ta có thể vượt qua sự mệt mỏi của cơ thể với sức mạnh của Thần Khí của Thiên Chúa. Và khi chúng ta không thể vượt qua điều này, thì hãy cầu xin Chúa Thánh Thần “Xin giúp chúng con. Lạy Thánh Thần, xin hãy đến giúp con. Con muốn gặp Chúa Giêsu; con muốn cầm trí và tỉnh thức”. Hãy cầu xin Thánh Thần kéo chúng ta ra khỏi chứng mê ngủ cản trở chúng ta cầu nguyện. Trong Mùa Chay này, sau những vất vả của mỗi ngày, chúng ta hãy làm tốt điều này là không tắt đèn nếu chưa đặt mình trong ánh sáng của Chúa. Hãy cầu nguyện một chút trước khi đi ngủ. Chúng ta có thể làm điều này bằng cách mở sách Tin Mừng và để cho mình ngạc nhiên trước Lời Chúa, bởi vì Kinh Thánh dọi bước cho chúng ta và làm cho tâm hồn chúng ta bừng cháy. Hoặc chúng ta có thể nhìn lên Thánh Giá và ngạc nhiên trước tình yêu điên rồ của Thiên Chúa, Đấng không bao giờ mệt mỏi với chúng ta và có quyền năng biến đổi ngày sống của chúng ta, mang đến cho chúng một ý nghĩa mới, một ánh sáng khác lạ và bất ngờ. Xin Đức Trinh Nữ Maria giúp chúng con luôn tỉnh thức để đón nhận thời gian hồng ân mà Thiên Chúa ban cho chúng con.
✠ Cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca Lc 22,14 – 23,56 22 14 nk Khi đến giờ ăn tiệc Vượt Qua, Đức Giê-su vào bàn với các Tông Đồ. 15 Người nói với các ông ✠ “Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình. 16 Bởi vì, Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa.” 17 nk Rồi Người nhận lấy chén, dâng lời tạ ơn và nói ✠ “Anh em hãy cầm lấy mà chia nhau. 18 Bởi vì, Thầy bảo cho anh em biết, từ nay, Thầy không còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến khi Triều Đại Thiên Chúa đến.” 19 nk Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói ✠ “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy.” 20 nk Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói ✠ “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em. 21 ✠ “Nhưng này bàn tay kẻ nộp Thầy đang cùng đặt trên bàn với Thầy. 22 Đã hẳn Con Người ra đi như đã ấn định, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người.” 23 nk Các Tông Đồ bắt đầu bàn tán với nhau xem ai trong Nhóm lại là kẻ toan làm chuyện ấy. 24 nk Các ông còn cãi nhau sôi nổi xem ai trong Nhóm được coi là người lớn nhất. 25 Đức Giê-su bảo các ông ✠ “Vua các dân thì dùng uy mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân. 26 Nhưng anh em thì không phải như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ. 27 Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai ? Hẳn là người ngồi ăn chứ ? Thế mà, Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ. 28 ✠ “Còn anh em, anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp thử thách gian nan. 29 Vì thế, Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, 30 để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en.” 31 nk Rồi Chúa nói ✠ “Si-môn, Si-môn ơi, kìa Xa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. 32 Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh.” 33 nk Ông Phê-rô thưa với Người m “Lạy Chúa, dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng sẵn sàng.” 34 nk Đức Giê-su lại nói ✠ “Này anh Phê-rô, Thầy bảo cho anh biết, hôm nay gà chưa kịp gáy, thì đã ba lần anh chối là không biết Thầy.” 35 nk Rồi Người nói với các ông ✠ “Khi Thầy sai anh em ra đi, không túi tiền, không bao bị, không giày dép, anh em có thiếu thốn gì không ?” nk Các ông đáp m “Thưa không.” 36 nk Người bảo các ông ✠ “Nhưng bây giờ, ai có túi tiền thì hãy mang theo, ai có bao bị cũng vậy ; còn ai chưa có gươm thì bán áo đi mà mua. 37 Vì Thầy bảo cho anh em hay cần phải ứng nghiệm nơi bản thân Thầy lời Kinh Thánh đã chép Người bị liệt vào hàng phạm pháp. Thật vậy, những gì đã chép về Thầy sắp được hoàn tất.” 38 nk Các ông nói m “Lạy Chúa, đã có hai thanh gươm đây.” nk Người bảo họ ✠ “Đủ rồi !” 39 nk Sau đó, Người đi ra núi Ô-liu như đã quen. Các môn đệ cũng theo Người. 40 Đến nơi, Người bảo các ông ✠ “Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ.” 41 nk Rồi Người đi xa các ông một quãng, chừng bằng ném một hòn đá, và quỳ gối cầu nguyện rằng 42 ✠ “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha.” 43 nk Bấy giờ có thiên sứ tự trời hiện đến tăng sức cho Người. 44 Lòng xao xuyến bồi hồi, nên Người càng khẩn thiết cầu xin. Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất. 45 nk Cầu nguyện xong, Người đứng lên, đến chỗ các môn đệ, thấy các ông đang ngủ vì buồn phiền, 46 Người liền nói với các ông ✠ “Sao anh em lại ngủ ? Dậy mà cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ.” 47 nk Người còn đang nói, thì một đám đông xuất hiện, và kẻ dẫn đầu tên là Giu-đa, một người trong Nhóm Mười Hai. Hắn lại gần Đức Giê-su để hôn Người. 48 Đức Giê-su bảo hắn ✠ “Giu-đa ơi, anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao ?” 49 nk Thấy việc sắp xảy ra, những kẻ đứng chung quanh Người liền hỏi m “Lạy Chúa, chúng con tuốt gươm chém được không ?” 50 nk Thế rồi một người trong nhóm chém tên đầy tớ của thượng tế, làm nó đứt tai bên phải. 51 Nhưng Đức Giê-su lên tiếng ✠ “Thôi, ngừng lại.” nk Và Người sờ vào tai tên đầy tớ mà chữa lành. 52 nk Sau đó Đức Giê-su nói với các thượng tế, lãnh binh Đền Thờ và kỳ mục đến bắt Người ✠ “Tôi là một tên cướp sao mà các ông đem gươm giáo gậy gộc đến ? 53 Ngày ngày, tôi ở giữa các ông trong Đền Thờ, mà các ông không tra tay bắt. Nhưng đây là giờ của các ông, là thời của quyền lực tối tăm.” 54 nk Họ bắt Đức Giê-su, điệu Người đến nhà vị thượng tế. Còn ông Phê-rô thì theo xa xa. 55 Họ đốt lửa giữa sân và đang ngồi quây quần với nhau, thì ông Phê-rô đến ngồi giữa họ. 56 Thấy ông ngồi bên ánh lửa, một người tớ gái nhìn ông chòng chọc và nói m “Cả bác này cũng đã ở với ông ấy đấy !” 57 nk Ông liền chối m “Tôi có biết ông ấy đâu, chị !” 58 nk Một lát sau, có người khác thấy ông, liền nói m “Cả bác nữa, bác cũng thuộc bọn chúng !” nk Nhưng ông Phê-rô đáp lại m “Này anh, không phải đâu !” 59 nk Chừng một giờ sau, có người khác lại quả quyết m “Đúng là bác này cũng đã ở với ông ấy, vì bác ta cũng là người Ga-li-lê.” 60 nk Nhưng ông Phê-rô trả lời m “Này anh, tôi không biết anh nói gì !” nk Ngay lúc ông còn đang nói, thì gà gáy. 61 Chúa quay lại nhìn ông, ông sực nhớ lời Chúa đã bảo ông “Hôm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần.” 62 Và ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết. 63 nk Những kẻ canh giữ Đức Giê-su nhạo báng đánh đập Người. 64 Chúng bịt mắt Người lại, rồi hỏi rằng m “Nói tiên tri xem ai đánh ông đó ?” 65 nk Chúng còn thốt ra nhiều lời khác xúc phạm đến Người. 66 nk Khi trời sáng, đoàn kỳ mục trong dân, các thượng tế và kinh sư nhóm họp. Họ điệu Người ra trước Thượng Hội Đồng 67 và hỏi m “Ông có phải là Đấng Mê-si-a thì nói cho chúng tôi biết !” nk Người đáp ✠ “Tôi có nói với các ông, các ông cũng chẳng tin ; 68 tôi có hỏi, các ông cũng chẳng trả lời. 69 Nhưng từ nay, Con Người sẽ ngự bên hữu Thiên Chúa toàn năng.” 70 nk Mọi người liền nói m “Vậy ông là Con Thiên Chúa sao ?” nk Người đáp ✠ “Đúng như các ông nói, chính tôi đây.” 71 nk Họ liền nói m “Chúng ta cần gì lời chứng nữa ? Chính chúng ta vừa nghe miệng hắn nói !” 23 1 nk Toàn thể cử toạ đứng lên, điệu Đức Giê-su đến ông Phi-la-tô. 2 nk Họ bắt đầu tố cáo Người rằng m “Chúng tôi đã phát giác ra tên này sách động dân tộc chúng tôi, và ngăn cản dân chúng nộp thuế cho hoàng đế Xê-da, lại còn xưng mình là Mê-si-a, là Vua nữa.” 3 nk Ông Phi-la-tô hỏi Người m “Ông là Vua dân Do-thái sao ?” nk Người trả lời ✠ “Chính ngài nói đó.” 4 nk Ông Phi-la-tô nói với các thượng tế và đám đông m “Ta xét thấy người này không có tội gì.” 5 nk Nhưng họ cứ khăng khăng nói m “Hắn đã xúi dân nổi loạn, đi giảng dạy khắp vùng Giu-đê, bắt đầu từ Ga-li-lê cho đến đây.” 6 nk Nghe nói thế, ông Phi-la-tô liền hỏi xem đương sự có phải là người Ga-li-lê không. 7 Và khi biết Người thuộc thẩm quyền vua Hê-rô-đê, ông liền cho áp giải Người đến với nhà vua lúc ấy cũng đang có mặt tại Giê-ru-sa-lem. 8 nk Vua Hê-rô-đê thấy Đức Giê-su thì mừng rỡ lắm, vì từ lâu vua muốn được gặp Người bởi đã từng nghe nói về Người. Vả lại, vua cũng mong được xem Người làm một hai phép lạ. 9 Nhà vua hỏi Người nhiều điều, nhưng Người không trả lời gì cả. 10 Các thượng tế và kinh sư đứng đó, tố cáo Người dữ dội. 11 Vua Hê-rô-đê cũng như thị vệ đều khinh dể Người ra mặt nên khoác cho Người một chiếc áo rực rỡ mà chế giễu, rồi cho giải Người lại cho ông Phi-la-tô. 12 Ngày hôm ấy, vua Hê-rô-đê và tổng trấn Phi-la-tô bắt đầu thân thiện với nhau, chứ trước kia hai bên vẫn hiềm thù. 13 nk Bấy giờ ông Phi-la-tô triệu tập các thượng tế, thủ lãnh và dân chúng lại 14 mà nói m “Các người nộp người này cho ta, vì cho là tay kích động dân, nhưng ta đã hỏi cung ngay trước mặt các người, mà không thấy người này có tội gì, như các người tố cáo. 15 Cả vua Hê-rô-đê cũng vậy, bởi lẽ nhà vua đã cho giải ông ấy lại cho chúng ta. Và các người thấy đó, ông ấy chẳng can tội gì đáng chết cả. 16 Vậy ta sẽ cho đánh đòn rồi thả ra.” [17 nk Vào mỗi dịp lễ lớn, ông Phi-la-tô phải phóng thích cho họ một người tù.] 18 Nhưng tất cả mọi người đều la ó dc “Giết nó đi, thả Ba-ra-ba cho chúng tôi !” 19 nk Tên này đã bị tống ngục vì một vụ bạo động đã xảy ra trong thành, và vì tội giết người. 20 Ông Phi-la-tô muốn thả Đức Giê-su, nên lại lên tiếng một lần nữa. 21 Nhưng họ cứ một mực la lớn dc “Đóng đinh ! Đóng đinh nó vào thập giá !” 22 nk Lần thứ ba, ông Phi-la-tô nói với họ m “Nhưng ông ấy đã làm điều gì gian ác ? Ta xét thấy ông ấy không có tội gì đáng chết. Vậy ta sẽ cho đánh đòn rồi thả ra.” 23 nk Nhưng họ cứ la to hơn, nhất định đòi phải đóng đinh Người. Và tiếng la càng thêm dữ dội. 24 nk Ông Phi-la-tô quyết định chấp thuận điều họ yêu cầu. 25 Ông phóng thích người tù họ xin tha, tức là tên bị tống ngục vì tội bạo động và giết người. Còn Đức Giê-su thì ông trao nộp theo ý họ muốn. 26 nk Khi điệu Đức Giê-su đi, họ bắt một người từ miền quê lên, tên là Si-môn, gốc Ky-rê-nê, đặt thập giá lên vai cho ông vác theo sau Đức Giê-su. 27 Dân chúng đi theo Người đông lắm, trong số đó có nhiều phụ nữ vừa đấm ngực vừa than khóc Người. 28 Đức Giê-su quay lại phía các bà mà nói ✠ “Hỡi chị em thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu. 29 Vì này đây sẽ tới những ngày người ta phải nói Phúc thay đàn bà hiếm hoi, người không sinh không đẻ, kẻ không cho bú mớm !’ 30 Bấy giờ người ta sẽ bắt đầu nói với núi non Đổ xuống chúng tôi đi !, và với gò nổng Phủ lấp chúng tôi đi ! 31 Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế, thì cây khô héo sẽ ra sao ?” 32 nk Có hai tên gian phi cũng bị điệu đi hành quyết cùng với Người. 33 nk Khi đến nơi gọi là “Đồi Sọ”, họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. 34 Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng ✠ “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” nk Rồi họ lấy áo của Người chia ra mà bắt thăm. 35 nk Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo m “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn !” 36 nk Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống 37 và nói m “Nếu ông là vua dân Do-thái thì cứu lấy mình đi !” 38 nk Phía trên đầu Người có bản án viết “Đây là vua người Do-thái.” 39 nk Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người m “Ông không phải là Đấng Ki-tô sao ? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với !” 40 nk Nhưng tên kia mắng nó m “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ ! 41 Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái !” 42 nk Rồi anh ta thưa với Đức Giê-su m “Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !” 43 nk Và Người nói với anh ta ✠ “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” 44 nk Bấy giờ đã gần tới giờ thứ sáu, thế mà bóng tối bao phủ khắp mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. 45 Mặt trời ngưng chiếu sáng. Bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ngay chính giữa. 46 Đức Giê-su kêu lớn tiếng ✠ “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” nk Nói xong, Người tắt thở. quỳ gối thinh lặng trong giây lát 47 nk Thấy sự việc xảy ra như thế, viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa rằng m “Người này đích thực là người công chính !” 48 nk Toàn thể dân chúng đã kéo đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc đã xảy ra, đều đấm ngực trở về. 49 nk Đứng đàng xa, có tất cả những người quen biết Đức Giê-su cũng như những phụ nữ đã theo Người từ Ga-li-lê ; các bà đã chứng kiến những việc ấy. 50 nk Khi ấy có một người tên là Giô-xếp, thành viên của Thượng Hội Đồng, một người lương thiện, công chính. 51 Ông đã không tán thành quyết định và hành động của Thượng Hội Đồng. Ông là người thành A-ri-ma-thê, một thành của người Do-thái, và cũng là người vẫn mong chờ Nước Thiên Chúa. 52 Ông đến gặp tổng trấn Phi-la-tô để xin thi hài Đức Giê-su. 53 Ông hạ xác Người xuống, lấy tấm vải gai mà liệm, rồi đặt Người vào ngôi mộ đục sẵn trong núi đá, nơi chưa chôn cất ai bao giờ. 54 Hôm ấy là áp lễ, và ngày sa-bát bắt đầu ló rạng. 55 nk Cùng đi với ông Giô-xếp, có những người phụ nữ đã theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê. Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xác Người được đặt như thế nào. 56 nk Rồi các bà về nhà, chuẩn bị dầu và thuốc thơm. Nhưng ngày sa-bát, các bà nghỉ lễ như Luật truyền.
Tĩnh Tâm Với Tin Mừng Theo Thánh Gio-an Tác giả Nguyễn Công Đoan ngày 17 tháng 4 năm 2018 Nguồn Đọc Tin Mừng theo Thánh Gio-an ta thường thấy thích thú, đồng thời cũng cảm thấy “chóng mặt”. Dựa trên hình ảnh bốn sinh vật trong thị kiến về xa giá của Thiên Chúa trong sách Ê-dê-ki-en, truyền thống đã dùng làm hình ảnh tượng trưng của bốn sách Tin Mừng “4 Tôi nhìn, thì kìa một cơn gió bão từ phương Bắc thổi đến ; có đám mây lớn, có lửa loé ra và ánh sáng chiếu toả chung quanh ; ở chính giữa như có một kim loại lấp lánh, ở chính giữa lửa. 5 Ở chính giữa, có cái gìtựa như bốn sinh vật. Đây là dáng vẻ của chúng chúng trông giống như người ta. 6 Mỗi sinh vật có bốn mặt và bốn cánh. 7 Còn chân của chúng thì thẳng ; bàn chân tựa bàn chân con bê, lấp lánh như đồng sáng loáng. 8 Bên dưới cánh, có những bàn tay giống tay người quay về bốn phía ; mặt và cánh của bốn sinh vật cũng đều như thế. 9 Cánh của chúng giáp vào nhau. Lúc đi, chúng không quay mặt vào nhau, nhưng cứ thẳng phía trước mặt mà tiến. 10 Còn bộ mặt của chúng, thì chúng đều có mặt người, cả bốn đều có mặt sư tử bên phải, cả bốn đều có mặt bò rừng bên trái, cả bốn đều có mặt phượng hoàng. 11 Đó là mặt của chúng. Còn cánh của chúng thì giương lên cao. Mỗi sinh vật có hai cánh giáp vào nhau và hai cánh khác phủ thân mình. 12 Chúng cứ thẳng phía trước mặt mà đi, thần khí đẩy phía nào, chúng đi phía đó ; lúc đi chúng không quay mặt vào nhau. 13 Ở giữa các sinh vật ấy, có cái gì giống như than hồng rực lửa, giống như ngọn đuốc, đang di chuyển giữa các sinh vật. Lửa phát ra ánh sáng và từ lửa phóng ra những tia chớp. 14 Các sinh vật đi đi lại lại nhanh như chớp” Ed 1,4-14. Bốn sinh vật làm thành cỗ xe xa giá của Thiên Chúa mỗi sinh vật đều mang bốn khuôn mặt, quả là một hình ảnh đẹp để diễn tả bốn sách Tin Mừng. Bốn cuốn sách khác nhau trình bày cùng một Tin Mừng, nhưng mang bốn khuôn mặt khác nhau. Bốn sinh vật làm thành xa giá của Thiên Chúa, bốn sách Tin Mừng là “xa giá” của Đức Giê-su Ki-tô để di chuyển đến tận cùng trái đất và mọi loài thụ tạo. “Mặt người” tượng trưng cho Tin Mừng Mát-thêu, vì sách này bắt đầu với gia phả, kể nguồn gốc Chúa Giê-su trong dòng dõi loài người, “Mặt sư tử” tượng trưng cho Tin Mừng Mác-cô, vì sách này mở đầu với tiếng hô trong hoang địa, “Mặt bò rừng” tượng trưng cho Tin Mừng Lu-ca, vì sách này mở đầu với việc tư tế Da-ca-ri-a phục vụ trong Đền Thờ, “Mặt phượng hoàng” tượng trưng cho Tin Mừng Gio-an, vì sách này mở đầu với nguồn gốc Chúa Giê-su từ cung lòng Thiên Chúa. Phương hoàng vẫn là loài chim bay cao tận đỉnh trời. Chúng ta chóng mặt vừa vì lối văn của Gio-an, vừa vì nội dung luôn nối kết đất với trời nhằm giúp chúng ta “tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống đời đời.” Ga 20,31 Thêm vào đó, chúng ta hay bị “nhồi sọ” rằng sách Tin Mừng Gio-an cao siêu, khó hiểu. Cao siêu thì chắc chắn rồi, nhưng khó hiểu hay không là tùy ta có tìm được hay không chìa khóa để vào lâu đài và nút bật đèn cho có ánh sáng dẫn đường đưa tới kho tàng trong lâu đài là Đức Giê-su Ki-tô Con Thiên Chúa. * * * Lời Tựa chính là Chìa khóa được cắm sẵn ở cửa. Nút bật đèn soi dưới chân cũng được chỉ dẫn ở ngay cửa, đó là toàn bộ Cựu Ước từ sách Sáng Thế tới các sách Khôn ngoan. 1 Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành Ga 1, 1-3 … Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà có. 18 Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả ; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã kể cho chúng ta biết.” Còn nút bật đèn soi từ trên trần xuống, lại đặt ở cuối hành lang, khi Chúa phục sinh đến và đứng giữa nhóm Mười Một “19 Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói "Bình an cho anh em !" 20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông "Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” Ga 20,19-21. Trong bữa ăn cuối cùng với họ, Chúa Giê-su đã nói rõ “16 Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. 17 Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” Ga 14,16-17. “12 Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. 13 Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. Ga 16,12-15. Thần Khí mà Chúa Giê-su xin Cha gởi đến vừa là Thần Khí của sự thật, vừa là ơn tha tội. Các lời hứa Giao Ước Mới trong sách I-sai-a 54,1, Giê-rê-mi-a 31,33-34, Ê-dê-ki-en đều bao gồm ơn tha tội và ơn “biết” Thiên Chúa, tức là hai mặt của tương quan mới với Thiên Chúa trong Giao Ước mới, nhưGiê-rê-mi-a loan báo “33 Đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en sau những ngày đó - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta. 34 Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia "Hãy học cho biết ĐỨC CHÚA", vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta - sấm ngôn của ĐỨC sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa. Ê-dê-ki-en cho biết cả ơn tha tội và ơn biết Thiên Chúa đều do tác động của Thần Khí của Thiên Chúa “25 Rồi Ta sẽ rảy nước thanh sạch trên các ngươi và các ngươi sẽ được thanh sạch, các ngươi sẽ được sạch mọi ô uế và mọi tà thần. 26 Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. 27 Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành. 28 Các ngươi sẽ cư ngụ trong đất Ta đã ban cho tổ tiên các ngươi. Các ngươi sẽ là dân của Ta. Còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi. 29 Ta sẽ cứu các ngươi khỏi mọi ô uế” Ed 36,25-28. Chúa Giê-su đã thiết lập Giao Ước Mới bằng Máu của Người, “Con Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian.” Ga 1,29. Từ trên thập giá, Người đã trao hơi thở [Thần Khí], như khi tạo dựng Thiên Chúa đã thổi hơi vào lỗ mũi con người x. St 2,7. Khi đã phục sinh Chúa đến thổi hơi vào các môn đệ và nói “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” Ga 20,22. Các môn đệ đã sống với Chúa Giê-su cũng chỉ hiểu được Mầu nhiệm Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, là Con Thiên Chúa nhờ luồng sáng của Lời Chúa trong Cựu Ước và Thánh Thần. Các sách Tin Mừng được viết ra cho chúng ta là do Thánh Thần linh hứng và đều quy chiếu vào Cựu Ước để giải nghĩa nhiệm mầu cho chúng ta khi kể cho chúng ta nghe lời Chúa Giê-su đã nói và việc Chúa đã làm. Các khoa học liên quan tới Thánh Kinh lịch sử, khảo cổ, ngôn ngữ, các phương pháp phân tích… giúp ta hiểu nhiều điều bằng trí tuệ. Nhưng Thánh Kinh là Lời Chúa do Thánh Thần linh hứng cho các tác giả viết ra, để đưa chúng ta vào mầu nhiệm của Thiên Chúa, vào kế hoạch cứu độ, ý định bày tỏ lòng yêu thương của Thiên Chúa, nên các khoa học nghiên cứu chỉ giúp chúng ta thỏa mãn trí tuệ, chứ không đưa được chúng ta vào trong Thiên Chúa, trong tình yêu của Thiên Chúa. Người ta có thể tìm được một bức thư tình của một nhân vật nổi tiếng và dùng mọi phương pháp phân tích để giải nghĩa, kể cả xác minh xem tác giả có đúng là người mà người ta nghĩ không, nhưng chẳng ai có thể vào được trong những tâm tình mà bức thư muốn truyền tải, ngoài hai người trong cuộc của mối tình ấy. Kinh Thánh là bức thư tình xuyên thế kỷ của Thiên Chúa hằng sống, do Thánh Thần của Thiên Chúa - là chính Tình Yêu nối kết Cha và Con trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, và nối kết người đón nhận Tình Yêu của Thiên Chúa vào trong mầu nhiệm của Thiên Chúa Tình Yêu – dùng con người để viết, và đầu bên kia, người nhận thư, bất cứ ai đón nhận bức thư ấy là bức thư viết cho đích danh mình, và để cho Tình Yêu ấy cuốn mình vào trong lòng Ba Ngôi Thiên Chúa, vì chỉ có “Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa” ví như nơi con người, “ai trong loài người biết được những gì nơi con người, nếu không phải là thần trí của con người trong con người” x. 1 Cr 2,10-11. Vậy thì chỉ có sự gặp gỡ giữa Thần Khí Thiên Chúa với thần trí con người mới đưa con người vào trong mầu nhiệm của Thiên Chúa Tình Yêu qua bức thư tình của Thiên Chúa. Một chuyên viên Thánh Kinh có thể giảng dạy, viết hàng trăm cuốn sách về Kinh Thánh, rất bác học uyên thâm, giống như bất cứ nhà bác học nào khác trong ngành chuyên môn của họ, nhưng chưa chắc đã đón nhận đó là bức thư tình của Thiên Chúa gởi cho đích danh mình. Trái lại một người quê mùa chất phác, chỉ nhớ được vài câu khi nghe đọc trong thánh lễ, nhưng lại sống như là lời của Trái Tim Thiên Chúa nói với trái tim mình, ban sức sống để soi sáng và ban sức sống cho mình suốt đời. Thời các tông đồ đã có bao nhiêu nhà thông luật ngày đêm nghiên cứu Kinh Thánh mà Chúa Giê-su nhắc đến “Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông tìm được sự sống đời đời. Mà Kinh Thánh làm chứng về tôi. Các ông không muốn đến cùng tôi để tìm được sự sống” Ga 5,39-40. Các môn đệ của Chúa cũng đã từng học với các chuyên gia ấy, rồi đã được ở với Chúa mấy năm trời mà vẫn chưa hiểu, cho tới khi Chúa Phục Sinh “giải huyệt ngu” cho các ông “Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh” Lc 24,45. Nội lực để “giải được huyệt ngu” chính là Thánh Thần mà Chúa Phục Sinh đem cho các ông và cho chúng ta hôm nay Lc 24,49. Tôi nhớ có một bài của một nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20, tựa đề “lời mẹ dặn” “Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét - dù ai cầm dao dọa giết, cũng không nói ghét thành yêu - dù ai ngon ngọt nuông chiều, cũng không nói yêu thành ghét”. “Lời mẹ dặn” ấy cùng với tình yêu của mẹ sẽ soi sáng cả cuộc đời của người con, sống trung thực, dù phải trá giá bằng chính mạng sống mình. Trong lịch sử Việt Nam, chúng ta có một nhân vật rất nổi tiếng đã thay đổi dòng lịch sử vì lòng hiếu thảo, ông quyết theo cha, sống chết với cha, lúc ấy bị quân Tàu bắt đem về bên kia biên giới. Nhưng tới biên giới thì cha ông bảo ông quay về, vì nợ nước nặng hơn tình nhà. Ông vâng lời cha quay về và đã giúp vua Lê Lợi xoay lại dòng lịch sử, giải phóng dân ta khỏi ách đô hộ của phương Bắc. Một lời người cha nói với người con đủ thay đổi không chỉ cuộc sống của một người con, mà thay đổi vận mạng, lịch sử của cả một dân tộc. Một lời thôi, vâng chỉ một lời của một người cha được người con đón nhận đã giúp thay đổi vận mạng cả một dân tộc, từ thân nô lệ phương Bắc lại hiên ngang làm Con Rồng Cháu Tiên, ngày ngày đứng trên mảnh đất bé nhỏ hình chữ S bên bờ Thái Bình Dương, đón nắng mặt trời lên thẳng từ chân trời, không bị bóng đế quốc nào che khuất ! Việt Nam quê hương tôi ! Việt Nam đất nước tôi ! Việt Nam hai ngàn năm lịch sử chống ngoại xâm, một Mẹ Âu Cơ tay bồng trăm đứa con đi đánh giặc, lần lượt xua tan năm đế quốc sừng sỏ nhất của mỗi thời đại. Một lời người cha của Nguyễn Trãi nói với ông, đã thành lời của Mẹ Âu Cơ nói với cả trăm đứa con. Chỉ một lời thôi, Mẹ Âu Cơ ơi ! Mẹ thật tuyệt vời ! Đế quốc nào nữa dám lăm le ? Coi chừng Mẹ tôi sẵn sàng ra tay nữa đấy nhé ! Thế còn Lời Chúa Toàn Năng, Đấng phán một lời làm nên trời đất nói với tôi, có thay đổi được cuộc đời tôi và giúp tôi góp phần thay đổi thế giới đầy tội ác, phi nhân phi nghĩa ngày nay không ? Tùy tôi đấy. Chẳng lẽ tôi có thể làm mất mặt Thiên Chúa toàn năng mà tôi tuyên xưng “Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất”. Chúa phán một lời dựng nên trời đất mà không biến đổi được một con người bé nhỏ là tôi… Tôi to gan thật ! Nhưng Chúa đã lỡ chấp nhận để lời toàn năng của Chúa lệ thuộc vào tôi, nên Chúa đành chịu đấy ! Tôi có chịu nghĩ lại không ? Sách Tin Mừng theo thánh Gio-an đưa chúng ta vào mầu nhiệm Chúa Giê-su Ki-tô bằng con đường chiêm niệm rất ngọt ngào. Có thể ví như khi đứng trước một lâu đài, chúng ta thấy có vẻ kỳ bí và sợ bước vào, nhưng nếu có một người sống trong lâu đài ấy, biết mọi ngóc ngách, cầm tay dắt chúng ta vào, vừa dẫn đi vừa giải thích cho chúng ta thì chúng ta hết sợ. Cứ để người ấy dẫn đi và uống lấy những lời giải thích, ta sẽ ngất ngây chiêm ngắm những kỳ diệu trong lâu đài và không muốn ra nữa, như hai người môn đệ đầu tiên được Chúa mời “đến mà xem, họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy”… Ga 1,39. Rồi ở luôn ! Bây giờ chúng ta hãy xin Chúa cho cùng đi theo với hai người môn đệ đầu tiên này, “đến xem nơi Chúa ở, ở lại với Chúa ngày hôm ấy”… rồi nấn ná xin ơn ở lại luôn. 1. Lời Tựa Mười tám câu đầu sách Tin Mừng này được coi như lời tựa. Lời tựa một cuốn sách bao giờ cũng nhằm giới thiệu tổng quát chủ đề, mục đích, phương pháp nghiên cứu và cách trình bày. Lời tựa của sách Tin Mừng thứ tư khởi từ “thân thế và sự nghiệp” của “Ngôi Lời”. Người là “Lời” hiện hữu từ ban đầu ở nơi Thiên Chúa. “Lời” của loài người thì chỉ diễn tả ra, còn Lời của Thiên Chúa thì vừa diễn tả chính Thiên Chúa vừa là Thiên Chúa. Thư Cô-lô-xê dùng kiểu nói tương tự, diễn tả Người là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình”. Hình ảnh của Thiên Chúa là thực thể cùng hiện hữu và là Thiên Chúa, không tách rời khỏi Thiên Chúa, ở nơi Thiên Chúa, luôn hướng về Thiên Chúa. “Hình ảnh” của chúng ta, lời chúng ta diễn tả chính mình, thay đổi tùy lúc, không nhất thiết trung thực ; vì thế nhiều khi chúng ta phải hỏi “anh/chị nghĩ anh/chị là ai thế ?” khi thấy một người không biết mình là ai, tưởng mình là ông to bà lớn và cư xử như ông to bà lớn, tới mức bệnh tâm thần, tưởng mình là vua, thậm chí là một trong Ba Ngôi Thiên Chúa nữa. Lời, hình ảnh của chúng ta diễn tả cái chúng ta mơ ước, mong muốn chứ không phải thật. Đánh phấn tô son hàng giờ trước gương là để tạo khuôn mặt mình muốn. Có chuyện cô gái trông thật xinh đẹp vẫy xích lô từ Chợ Saigon đi xuống Chợ Lớn giữa mùa hè, mồ hôi ra làm trôi son phấn ... Khi tới nơi quay mặt lại trả tiền thì bác đạp xích lô hét lên, ù té chạy mất, vì tưởng gặp ma giữa ban ngày ! Cái mơ ước đầu tiên quỷ đã bày cho con người là mơ ước nên bằng, nên như Thiên Chúa, và đi đường tắt để đạt tới đích cưỡng lời Thiên Chúa, để tỏ ra mình bằng Thiên Chúa. Kết quả là nên bằng với thằng “cha sự dối trá”. Lời Thiên Chúa làm nên mọi sự. “Thiên Chúa phán Hãy có ánh sáng’, liền có ánh sáng.” Với mười lần “phán”, Thiên Chúa đã làm nên cả trời đất và mọi loài. Chỉ có con người được Thiên Chúa tạo thành “giống hình ảnh” của Thiên Chúa [chứ không phải LÀ hình ảnh của Thiên Chúa] mới có thể cưỡng lại Lời Thiên Chúa. Thiên Chúa sai Mô-sê đem MƯỜI LỜI cho vua Pha-ra-ô, mười lần Pha-ra-ô đều cưỡng lại, nên trở thành mười tai họa cho vua và dân. Ở núi Xi-nai Thiên Chúa tuyên bố nhận đám dân hỗn tạp vừa được Người giải thoát khỏi ách nô lệ, làm dân của Thiên Chúa và ban cho họ MƯỜI LỜI để sống làm Dân của Thiên Chúa. Tương lai của họ tùy thuộc họ có làm theo những lời ấy hay không nếu họ làm theo thì họ sẽ được vào Đất của Thiên Chúa, cưỡng lại thì họ không phải là Dân của Thiên Chúa nữa, nên sẽ không được vào. Khi vào rồi họ vẫn phải tiếp tục làm theo Mười Lời đó để “làm dân của Thiên Chúa”, nếu không thì sẽ bị đuổi ra, sẽ phải lưu đầy xa Đất của Thiên Chúa. Con người được giao cho hai nhiệm vụ quản lý những gì Thiên Chúa đã tạo thành và thi hành,làm theo Mười Lời Thiên Chúa đã ban để sống làm dân của Thiên Chúa và được hưởng những gì Thiên Chúa hứa. Lời con người nói thì chỉ bay theo gió, Lời Thiên Chúa thì làm nên mọi sự. Vinh dự của con người là nếu làm theo Lời Thiên Chúa thì cũng làm được điều Thiên Chúa giao cho mình. Thiên Chúa đã hạ mình xuống và nâng con người lên bằng cách đó lời Thiên Chúa lệ thuộc vào con người, con người được dự phần vào quyền năng của Thiên Chúa bằng cách làm theo Lời Thiên Chúa. Ngày nay mọi thứ máy móc, dụng cụ đều có bản chỉ dẫn kèm theo. Muốn sử dụng được phải làm theo những chỉ dẫn, vì người chế tạo mới biết và cho biết cách sử dụng. Người ta sẵn sàng tìm người giúp hiểu đúng lời chỉ dẫn, và tuân theo… rất tỉ mỉ. Thế nhưng người ta lại không muốn làm theo lời chỉ dẫn của Thiên Chúa, nhưng muốn làm theo ý mình. “Thiên Chúa biết ta được Người nhồi nắn bằng gì” Tv 103/102,14 và muốn chúng ta nên như thế nào, mới có thể chỉ dẫn cho chúng ta biết làm thế nào để trở nên chính mình, để làm dân, làm con của Thiên Chúa. Cuộc xung đột giữa ánh sáng và bóng tối ngay từ lúc tạo thành trời đất thì Thiên Chúa đã giải quyết bằng Lời của Ngài, tách ánh sáng ra khỏi bóng tối, ngày và đêm phân biệt rõ ràng. Nhưng từ khi tạo dựng nên con người thì Thiên Chúa gặp sự từ chối, chống đối Thiên Chúa bị từ chối. Thiên Chúa muốn ban cho con người sự sống, thế mà cũng bị từ chối. Từ chối sự sống thì chỉ còn sự chết, cũng như từ chối ánh sáng thì chỉ còn bóng tối. Nhưng Thiên Chúa không ép buộc, cũng không chịu thua, vì Thiên Chúa trung thành với chính mình, không thể rút lại lời hứa ban sự sống. Thua keo này Thiên Chúa bày keo khác. Gởi Lời đến bằng công trình tạo dựng thì con người “mù” hoặc lóa mắt, không nhận ra, tưởng đó là thần và thờ mặt trời, mặt trăng, sao trời ; gởi Lời đến bằng lời loài người qua Môsê và các ngôn sứ, thì con người “điếc” không nghe. Kế sách cuối cùng của Thiên Chúa là gởi Lời đến làm người bằng xương bằng thịt “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”. Kết quả ra sao ? Có hơn gì không ? Bên cạnh đó, Thiên Chúa còn gởi một người đến làm chứng cho ánh sáng, cho sự thật, để mọi người nhờ ông mà tin. Kết quả ra sao ? Có hiệu lực không ? Con người vẫn có thể sáng mắt thính tai, hay mù và điếc “có chọn lựa” ! Thiên Chúa chẳng cưỡng ép được con người, vì đã “lỡ” làm nên con người có tự do chọn lựa, có thể đối diện với Thiên Chúa, có thể đáp lời hay từ chối Thiên Chúa. Con Thiên Chúa đến làm người, có họ có tên, có nơi sinh, nơi sống ở giữa chúng ta, để nói với chúng ta bằng môi miệng của một con người, bằng tiếng nói và ngôn ngữ của loài người. Xưa Thiên Chúa ban Mười Lời để người ta sống làm dân của Thiên Chúa và nhờ thế được ở trên đất của Thiên Chúa. Đó mới là bài tập ; nay mới là quyết liệt, định đoạt số phận đời đời Thiên Chúa gởi nguyên khối cả Lời của Người, cốt để cho chúng ta được trở nên con Thiên Chúa giống như Người và được sống đời đời với Người. Nhận hay không, nghĩa là tin hay không. Nhận nghĩa là tin rằng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, thì được quyền trở nên Con Thiên Chúa, được biết Thiên Chúa một cách thiết thân như con biết cha, vì Người là Con Một từ trong lòng Cha đến để kể cho chúng ta. Tất cả vũ trụ nói với chúng ta về Thiên Chúa, “kể cho chúng ta vinh quang của Thiên Chúa” bằng cách phản ánh vinh quang ấy qua vẻ đẹp kỳ diệu. Thiên Chúa sai Mô-sê và các ngôn sứ đến nói lời của Thiên Chúa bằng lời loài người, nhưng chưa bao giờ, và chưa có ai đươc thấy Thiên Chúa. Ông Mô-sê xin được thấy mặt Thiên Chúa, thì Thiên Chúa trả lời không được ! Thấy là chết liền ! x. Xh 33,18-23. Ở núi Xi-nai, cả toàn dân của Thiên Chúa, khi nghe tiếng của Thiên Chúa thì cũng run sợ, và yêu cầu ông Mô-sê “Xin chính ông nói với chúng tôi thì chúng tôi mới dám nghe ; nhưng xin Thiên Chúa đừng nói với chúng tôi, kẻo chúng tôi chết mất !” x. Xh 20,19. “Ngôi lời đã trở thành người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”, đây là nỗ lực cuối cùng của Thiên Chúa để ban ơn cho loài người, như lời mở đầu thư Híp-ri diễn tả “1 Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ ; 2 nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. 3 Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật. Sau khi đã tẩy trừ tội lỗi, Người lên ngự bên hữu Đấng Cao Cả trên trời. 4 Danh hiệu Người được thừa hưởng, cao cả hơn danh hiệu các thiên thần bao nhiêu, thì Người lại trổi hơn họ bấy nhiêu.” Quả thật, “từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” Ga 1,16 tạo dựng là ơn đầu tiên, Lề Luật là ơn ban của Thiên Chúa để diễn tả tình yêu của Thiên Chúa, nay trong Đức Ki-tô Giê-su Thiên Chúa đã ban trọn khối tình yêu và thành tín của người, thành tín thực hiện mọi lời đã hứa từ xưa qua các giai đoạn, và bây giờ thì Thiên Chúa đã cho trọn khối, vì đã ban chính Con Một của Người và ban chính mình Người cùng với Con Một, vì Con Một vốn ở trong lòng Thiên Chúa, không tách rời được. “Thiên Chúa đã yêu mến thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải diệt vong, nhưng có sự sống đời đời.” Ga 3,16. “Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” Tạo dựng “nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.” Lề Luật “được ban qua Mô-sê”, là công trình của Lời ; đón nhận và thi hành thì được làm Dân của Thiên Chúa, được vào và sống trên đất của Thiên Chúa. Ân sủng và sự thật thì không phải là công trình của Người, nhưng là chính Người, Con Một của Thiên Chúa. Lời được Cha sai đến, đến bằng xương bằng thịt, để nhờ Người, Cha tự ban chính mình cho loài người chúng ta, vì tin vào Người thì được trở nên anh em của Người, vì được trở nên con Thiên Chúa “Cha của Thầy cũng là Cha của anh em” Ga 20,17. Ân sủng và sự thật ở đây tương ứng với kiểu nói quen thuộc trong Cựu Ước tiếng Híp-ri “Khe-sét và Emet” ; Khe-sét nghĩa là Tình Yêu “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi…” và Emet nghĩa là Sự Thật, tức là sự thành tín của Thiên Chúa, Thiên Chúa trung thành giữ lời đã hứa với Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp cho đất và một dòng dõi đông như sao trời cát biển ; sau này có thêm lời hứa cho Đa-vít nữa cho dòng dõi Đa-vít làm vua muôn đời. Nhờ Chúa Giê-su Ki-tô, với Người và trong Người, mọi lời hứa đã thành sự thật. Ông Mô-sê chán nản, mệt mỏi xin được chết, cũng thưa “Ấy là nếu con được ơn nghĩa Khe-sét trước mắt Ngài” Ds 11,15 ; khi năn nỉ Thiên Chúa cùng đi lên với dân, ông cũng nói ”Nếu không, làm sao người ta biết rằng con và dân Ngài được ơn nghĩa khe-sét trước mắt Ngài”, nghĩa là con và dân của Ngài được Ngài thương Xh 33,16. Sau này khi sứ thần nói với Đức Mẹ “Bà đã được nghĩa trước mặt Thiên Chúa” Lc 1,30, nghĩa là Bà được Thiên Chúa thương, chính vì thế “Bà đầy ơn phúc” Lc 1,28, bà là một khối ơn phúc, vì người Con bà sẽ sinh ra là trọn khối ân tình của Thiên Chúa cho loài người. PHƯƠNG PHÁP ĐỌC sự liên hệ mật thiết giữa Lời đã ban qua Mô-sê và các ngôn sứ và Lời do chính Lời hằng hữu đến làm người nói với chúng ta, mở cho chúng ta thấy phải đọc sách Tin Mừng này như thế nào. Trước hết, đây là một cuốn sách nên phải đọc trong mạch văn của cuốn sách, đừng lẫn lộn với ba sách Tin Mừng kia, kẻo thành ra “râu ông nọ cắm cằm bà kia” thì sẽ rối mù. Thứ hai là đừng tách ra khỏi mạch văn của toàn thể Sách Thánh từ Lời đã đến qua Mô-sê và các ngôn sứ tới Lời đã làm người và cư ngụ giữa chúng ta, từ sách Sáng Thế cho tới sách Khải Huyền của Tân Ước đều do MỘT LỜI, “nhiều thể nhiều cách”, qua nhiều giai đoạn, phối hợp với nhau để đưa ta vào kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, kế hoạch được vén mở từng bước, bước trước rước bước sau, bước sau tiếp bước trước, giải thích lẫn nhau cách hài hòa, như một bản trường ca của Tình Yêu Thiên Chúa, diễn tả “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Tác giả dẫn chúng ta vào khúc tuyệt đỉnh của bản trường ca ấy, tựa đề là “Ân Sủng và Sự Thật”. Phải mở lòng, mở trí, mở tai, mở mắt mà cảm nếm từng nốt nhạc vang lên đúng trường độ và cả những dấu lặng, cảm nếm sự vang vọng giữa khúc này với khúc khác, như khi nghe một kiệt tác âm nhạc, không có gì là dư, là thừa hay thiếu ở đây. Đừng sửa tác giả. Đừng vẽ rắn thêm chân, kẻo làm hỏng hết kiệt tác đấy ! 2. Người làm chứng Làm chứng là một khái niệm và một chức năng quan trọng bậc nhất trong sách Tin Mừng thứ tư, vì Tin Mừng này muốn đưa chúng ta theo Chúa Giê-su Ki-tô vào trong lòng Thiên Chúa Cha, nơi Người vẫn ở tự đời đời, từ trước khi có trời đất, và Người đến làm người, cư ngụ giữa chúng ta trên mặt đất này, trong một giai đoạn lịch sử nhất định, để khi “bỏ thế gian mà về cùng Cha” thì đưa chúng ta vào trong lòng Chúa Cha cùng với Người “Thầy đi dọn chỗ cho anh em, rồi Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu thì anh em cũng được ở đó với Thầy” Ga 14,3. Nội dung của Tin Mừng là Thiên Chúa bày tỏ tột đỉnh Tình Yêu của Ngài đối với loài người chúng ta. “Thiên Chúa thì chưa có ai thấy bao giờ”. Chỉ có Con Một vốn ở trong lòng Cha mà đến mới có thể kể ra cho chúng ta, kể bằng chính bản thân, bằng lời nói và việc làm, bằng chính cuộc sống và chính mạng sống của Ngài nữa. Người làm chứng là người đem tính mạng của mình để bảo đảm rằng lời mình nói là đúng sự thật. Từ Hy-lạp và La-tinh “MARTYR” mà chúng ta dịch là TỬ VÌ ĐẠO, thì ý nghĩa chung của nó là “người làm chứng”. Áp dụng vào người đem mạng sống của mình ra làm chứng về đức tin, chúng ta gọi là “tử vì đạo”. Con Một Thiên Chúa đã nên một trong chúng ta để kể cho chúng ta về Thiên Chúa, Cha của Ngài và Cha của chúng ta, mà loài người chúng ta chưa ai được thấy, nên chúng ta tin là nhờ vào lời của Ngài thôi, vì thế Ngài là người làm chứng. Chúa Cha làm chứng về Ngài bằng cách cho Ngài quyền năng để làm những việc sức loài người không thể làm được, Ngài làm chứng về Chúa Cha và tình yêu của Chúa Cha bằng cách nói những lời Chúa Cha dạy Ngài nói và làm những việc Chúa Cha dạy Ngài làm x. Ga 5,19-20, cuối cùng bằng cách thí mạng sống mình để chứng tỏ Ngài yêu mến Chúa Cha và yêu mến chúng ta. Có một người Thiên Chúa sai đến làm chứng về Chúa Giê-su để mọi người nhờ ông mà tin rằng Chúa Giê-su quả là Đấng Thiên Chúa sai đến, đó là ông Gio-an Tẩy Giả. Ông cũng đã làm chứng bằng chính mạng sống của mình. “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi”, tới số không, “dê-rô” ! x. Ga 3,30. Mấy môn đệ của ông Gio-an trở thành những người đầu tiên đã tin vào Chúa Giê-su và trở thành những môn đệ đầu tiên của Chúa Giê-su x. Ga 1,36-39. Trước khi Chúa Giê-su bị nộp, vì giờ của Ngài chưa đến, Ngài lánh về nơi ông Gio-an đã làm chứng về Ngài, ở Bê-ta-ni-a bên kia sông Gio-đan, thì chúng ta được biết ở đó “Họ bảo nhau Ông Gio-an đã không làm một dấu lạ nào cả, nhưng mọi điều ông ấy nói về người này đều đúng’. Ở đó, nhiều người đã tin vào Đức Giê-su.” Ga 10,41-42.
BÀI 2 ĐỌC TIN MỪNG NHƯ THẾ NÀO ? I. CẦU NGUYỆN ĐẦU GIỜ Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin dâng lên Chúa giờ học hôm nay với tất cả lòng yêu mến Chúa và để cứu rỗi các linh hồn. Xin Chúa ban Chúa Thánh Thần xuống trên tâm hồn mỗi người chúng con, để Ngài soi sáng, hướng dẫn và thánh hoá giờ học của chúng con, giúp chúng con đạt được những kết quả tốt nhất như ý Chúa muốn. Hát Cầu xin Chúa Thánh Thần… II. DẪN VÀO LỜI CHÚA Các em thân mến, Trong bài học tuần trước, chúng ta đã biết sơ qua các sách Tân Ước. Giả sử cần phải giới thiệu cho một ai đó về quyển Tân Ước, em sẽ nói thế nào ? có thể trình bày một số nét chính được không? Tân ước gồm bao nhiêu cuốn ? Chia làm mấy loại ? Trọng tâm các sách Tân ước là gì? Như chúng ta đã biết, các sách Cựu Ước hầu hết được viết bằng tiếng Hipri tiếng Do thái cổ , một phần nhỏ được viết bằng tiếng Aram tiếng Do thái thời Chúa Giêsu và tiếng Hylạp. Riêng Tân ước, tất cả đều được viết bằng tiếng Hy Lạp. Trong lớp chúng ta, nhà bạn nào có quyển Kinh Thánh trọn bộ ? bạn nào có quyển Kinh Thánh Tân Ước? Quyển Kinh Thánh các em đang có trong tay là bản dịch của ai ? xem ở đầu sách Kể từ khi được viết ra cho đến nay, Kinh Thánh luôn là cuốn sách được đọc, được nghiền ngẫm, nghiên cứu, được dịch và được in ra nhiều nhất. Tại sao Kinh Thánh luôn là cuốn sách được đọc, được nghiền ngẫm, nghiên cứu, được dịch và được in ra nhiều nhất như vậy? Để trả lời câu hỏi trên, chúng ta hãy nghe Thánh Gioan cho biết mục đích của Ngài khi chép sách Tin Mừng, và đây cũng là chìa khóa giúp chúng ta hiểu tại sao Kinh Thánh, đặc biệt các sách Tin Mừng lại là bộ sách kỳ diệu như vậy . Mời các em đứng lên, chúng ta cùng lắng nghe. III. CÔNG BỐ LỜI CHÚA Ga 20, 30-31 Xin giữ THINH LẶNG giây lát IV. GIẢI THÍCH LỜI CHÚA giải đoạn Kinh Thánh vừa nghe Thánh Gioan là người đã gặp được Đức Giêsu và đã đi theo Ngài. Những năm tháng sống với Thầy Giêsu đã giúp Thánh Gioan khám phá ra Đức Giêsu chính là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng muôn dân đợi trông. Khám phá đó là niềm vui. Niềm vui này lớn lao đến độ Ngài muốn cùng chia sẻ cho mọi người chúng ta “Những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấùng Kitô, Con Thiên Chúa và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Ngài” em học sinh thảo luận Đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe là một bài giảng a. Đoạn văn có những từ ngữ hoặc cụm từ nào quan trọng ? Dấu lạ, những điều đã được chép, để anh em tin, Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, sự sống. - Từ ngữ chính Dấu lạ, Tin b. Câu tóm ý câu 31 c. Đặt tựa đề ngắn Chủ đích của tác giả sách Tin Mừng. học giáo lý Thánh Césaria la Jeune nói “ Không có giáo lý nào tốt hơn, quý hơn và sáng chói hơn các sách Tin Mừng. Hãy xem và ghi nhớ những gì Đức Giêsu Kitô, Đấng là Chúa và là Thầy của chúng ta, đã dạy qua các lời nói và thực hiện qua các hành động của Ngài”. Muốn biết Chúa Giêsu, cần chiêm ngắm Ngài qua việc đọc các sách Tin Mừng. Nhưng nên đọc các sách Tin mừng như thế nào ? Chúng ta biết rằng, khởi đầu các sách Tin Mừng là những mẩu tường thuật về Chúa Giêsu. Những mẩu tường thuật này phát sinh độc lập nhau trong các cộng đoàn tín hữu, nhằm giải đáp những thắc mắc của họ về Chúa Giêsu. Sau đó, bốn tác giả sách Tin Mừng đã sưu tập chúng và sắp xếp thành những sách Tin Mừng khác nhau x. Lc 1,1-4 , mỗi sách Tin Mừng bộc lộ cho chúng ta thấy khuôn mặt của Chúa Giêsu dưới một khía cạnh. Như vậy khi đọc Tin Mừng, chúng ta có thể đọc theo một trong hai cách đơn giản sau đây Cách thứ nhất Đọc từng đoạn nhỏ, để ý đến những mẩu chuyện này, phép lạ nọ, diễn từ kia. Vì những mẩu chuyện này phát sinh từ những thắc mắc của các Kitô hữu thời Hội Thánh sơ khai nên chúng ta có thể đi từ những bàn văn để tìm hiểu xem đâu là vấn đề các Kitô hữu thời ấy và đâu là vấn đề của chúng ta hôm nay. Trường hợp một câu chuyện, một sự kiện được hai hay ba tác giả sử dụng, ta có thể đối chiếu các bản văn đó với nhau để tìm ra ý tác giả muốn nhấn mạnh về điều gì dựa vào những điểm dị biệt. Ví dụ Bão táp yên lặng Mt 8,12- 27; Mc 4,36-41; Lc 8,23-25. Cách thứ hai Đọc riêng rẽ từng quyển Tin Mừng và để ý đến cái nhìn của mỗi tác giả, tìm cách khám phá khuôn mặt của Chúa Giêsu như các cộng đoàn khác nhau đã nhận thấy được. Trước khi đọc bản văn, chúng ta nên đọc phần dẫn nhập trước để nắm được -Bố cục dàn bài của sách Tin Mừng chúng ta sắp đọc. -Tác giả là ai ? -Tác giả viết cho loại độc giả nào ? -Thời gian và nơi biên soạn ? -Mục đích của tác giả ? -Đạo lý hoặc những tư tưởng chính của sách ? Tuy nhiên, những cách đọc trên mới chỉ là bước đầu giúp ta yêu mến việc đọc Tin Mừng. Dần dần sau này, khi đọc, chúng ta cần tập đào sâu đoạn văn hơn. V. CẦU NGUYỆN GIỮA GIỜ Lạy Chúa Giêsu là Lời của Chúa Cha, Chúa đã đến tỏ cho chúng con biết lòng Cha yêu thương chúng con. Chúa cũng đã sống một đời mẫu mực cho chúng con noi theo. Xin Chúa giúp chúng con chăm chỉ lắng nghe, học hỏi và suy niệm Lời Chúa để áp dụng điều Chúa dạy vào trong cuộc sống hàng ngày. Chúng con cũng hứa sẽ bắt chước Chúa sống hết mình cho Cha và tận tình phục vụ mọi người. Chúng con cầu xin vì Chúa là Đấng… VI. SINH HOẠT GIÁO LÝ Hát Lắng nghe Lời Chúa VII. BÀI TẬP Em hãy chọn câu đúng nhất biết Chúa Giêsu là ai, em cần câu a a. Chiêm ngắm Ngài qua việc đọc các sách Tin Mừng. b. Thực hành các việc bác ái. c. Tìm hiểu những dấu lạ trong thiên nhiên. cách đơn giản để đọc sách Tin Mừng câu c a. Đọc từng đoạn nhỏ b. Đọc riêng rẽ từng quyển Tin Mừng và để ý đến cái nhìn của mỗi tác giả. c. Cả hai câu đều đúng DỐC LÒNG 1. Đoạn văn giúp ta biết gì về Thiên Chúa và tình thương của Ngài? “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian quá đỗi, nên mới ban Con Một của mình, để ai tin vào Ngài sẽ khỏi hư đi, nhưng được sống muôn đời” Ga 3,16 2. Qua đoạn văn này, hôm nay Thiên Chúa muốn dạy riêng tôi điều gì ? Tin trước hết là đón nhận Lời Thiên Chúa vào lòng mình và để cho lời ấy lớn lên hàng ngày, bằng việc siêng năng đọc Tin Mừng và đem ra thực hành theo gương Chúa Giêsu IX. CẦU NGUYỆN CUỐI GIỜ Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa về tất cả những ơn Chúa đã ban cho chúng con trong giờ học giáo lý hôm nay. Xin Chúa giúp chúng con ngày một yêu mến Lời Chúa và sống gắn bó với Chúa hơn. Amen.
Maria Valtorta Khi con người kết thúc cuộc sống tạm này để bước vào cõi sống đời đời, thì điều khiến cho con người lấy làm hối tiếc nhất là đã “không yêu mến Chúa Giêsu cho đủ” lúc còn sống trên trần gian này. Để có thể yêu mến Chúa Giêsu, chúng ta phải hiểu được Người. Để hiểu được Người và củng cố đức tin nơi Người, chúng ta phải đọc Tin Mừng. Tuy nhiên, đối với nhiều người thì Tin Mừng được viết quá cô đọng và khó hiểu. Để giúp cho mọi người có thể hiểu được Tin Mừng, Chúa Giêsu đã chọn những linh hồn hiến tế để tỏ bày Tin Mừng của Người, nhờ đó tất cả chúng ta đều có thể hiểu được Tin Mừng một cách thâm sâu nhất. “TIN MỪNG NHƯ ĐÃ MẶC KHẢI CHO TÔI” qua thụ khải Maria Valtorta là sự tỏ bày tình yêu chân thành nhất của Chúa Giêsu để mọi tâm hồn được đánh động nếu chúng ta mở lòng ra đón nhận và đọc.
đọc tin mừng như thế nào