Cần lưu ý, hành vi đe doạ ở tội cưỡng dâm chưa đến mức làm người bị đe doạ tê liệt ý chí, không dám kháng cự như ở tội hiếp dâm. Tìm phương pháp có hiệu quả để răn đe những người khác có khả năng thực hiện tội phạm tương tự; cách ly những người có BERLIN (Reuters) - Hôm thứ tư, Đức cho biết họ đang cân nhắc những bước đi sắp tới sau khi Việt Nam không đáp ứng yêu cầu của họ đòi trả lại một cựu giám đốc điều hành dầu khí mà Berlin tin rằng đã bị gián điệp Việt Nam bắt cóc. Trịnh Xuân Thanh, cựu giám đốc Trước tiên chị cần trình báo sự việc trên cho cơ quan công an để cơ quan công an tiến hành điều tra xác minh người đã nhắn tin cho chị. Đối với hành vi nhắn tin đe dọa, quấy dối người khác là hành vi bị cấm trong hoạt động động viễn thông tại quy định tại Khoản 4 Điều 12 Luật viễn thông. Bài viết "Kênh giả mạo con trai bà Phương Hằng có lượng người theo dõi cao đột biến và vẫn tăng sau 1 đêm, "đe doạ" cả hàng chính chủ " được đăng bởi vào ngày 2022-04-11 04:19:11. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại show.vn. Nguồn: kenh14.vn Mọi hành vi xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác đều vi phạm pháp luật và có những hình phạt nhất định. Theo quy định của Luật Viễn thông, hành vi đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân là hành vi bị nghiêm cấm. Nhóm hành vi phạm tội thứ nhất là hành vi chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, có kèm theo việc nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác. Đây là hành vi mua bán thông thường đã được luật hình sự Việt Nam quy định tại các Bộ luật Hình sự năm 1985 và 1999. Phát biểu bế mạc kỳ họp thứ 9, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh, chủ quyền biển đảo của Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng do việc Trung Quốc tiến hành xây đắp với quy mô lớn tại Trường Sa, đe dọa cuộc sống yên bình của người dân. Những công nghệ an toàn chủ động tiêu chuẩn trên Hyundai Kona gồm có: Cảm biến lùi (trừ bản 1.6 Turbo), camera lùi, hỗ trợ khởi hành ngang dốc HAC và xuống dốc DBC, hệ thống cân bằng điện tử ESC, phanh ABS/EBD/BA. Đáng chú nhất chính là hệ thống cảm biến áp suất lốp tiêu chuẩn đầu tiên trong phân khúc. App Vay Tiền. Xử lý hành vi dùng dao đe dọa người khác để cưỡng đoạt tài sản như thế nào? Mấy ngày trước, kế bên nhà tôi có một người xông vào nhà gây rối, làm mọi người hoảng loạn, người này có cầm dao đe dọa người vợ để lấy tiền với số tiền khá lớn là 60 triệu. Sau khi đạt được mục đích thì người này đã bỏ chạy và công an đã tóm kịp. Tôi thấy vụ việc này khá nghiêm trọng, tôi muốn hỏi hướng xử lý trường hợp này như thế nào? Anh Toàn đến từ Quảng Ngãi hỏi Xử phạt hành chính với hành vi dùng dao đe dọa người khác như thế nào? Hành vi dùng dao đe dọa người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự ra sao? Xử lý hành vi dùng dao đe dọa người khác để cưỡng đoạt tài sản như thế nào? Xử phạt hành chính với hành vi dùng dao đe dọa người khác như thế nào?Mức xử phạt hành chính đối với hành vi dùng dao đe dọa người khác áp dụng theo điểm b khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CPVi phạm quy định về trật tự công cộng...5. Phạt tiền từ đồng đến đồng đối với một trong những hành vi sau đâya Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;b Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương;c Quay phim, chụp ảnh, vẽ sơ đồ địa điểm cấm, khu vực cấm liên quan đến quốc phòng, an ninh;d Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;đ Sàm sỡ, quấy rối tình dục;e Khiêu dâm, kích dục ở nơi công cộng;g Thực hiện thiết kế, sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng, thử nghiệm tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang bị, thiết bị của tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ có chủng loại hoặc chất lượng không phù hợp với loại sản phẩm đã đăng ký theo giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp;h Sử dụng tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ phóng, bắn, thả từ trên không các loại vật, chất gây hại hoặc chứa đựng nguy cơ gây hại khi không được đó, cá nhân có hành vi dùng dao đe dọa người khác đồng nghĩa với hành vi gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương nên sẽ bị phạt tiền từ đồng đến đối với tổ chức vi phạm cùng hành vi trên thì sẽ chịu phạt tiền gấp đôi, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này. Ngoài ra, còn áp dụng hình thức xử phạt bổ sung đó là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm theo điểm a khoản 13 Điều 7 Nghị định 144/2021/ phạt hành chính với hành vi dùng dao đe dọa người khác như thế nào? Hình từ InternetHành vi dùng dao đe dọa người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự ra sao?Nếu hành vi này là hành vi đe dọa giết người thì có thể xử lý hình sự theo Điều 133 Bộ luật Hình sự 2015 cụ thể như sauTội đe dọa giết người1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năma Đối với 02 người trở lên;b Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;c Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;d Đối với người dưới 16 tuổi;đ Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm vậy, đối với người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Đối với các trường hợp có tình tiết tăng nặng thì mức phạt từ có thể lên tới 07 năm lý hành vi dùng dao đe dọa người khác để cưỡng đoạt tài sản như thế nào?Theo khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định về tội cưỡng đoạt tài sản cụ thể như sauTội cưỡng đoạt tài sản1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năma Có tổ chức;b Có tính chất chuyên nghiệp;c Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;d Chiếm đoạt tài sản trị giá từ đồng đến dưới đồng;đ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;e Tái phạm nguy Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năma Chiếm đoạt tài sản trị giá từ đồng đến dưới đồng;b Lợi dụng thiên tai, dịch Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năma Chiếm đoạt tài sản trị giá đồng trở lên;b Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ đồng đến đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài quy định nêu trên thì nếu hành vi dùng dao đe dọa người khác để yêu cầu đưa tài sản thì có thể xử lý hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản. Cụ thể người này đã có hành vi chiếm đoạt số tiền là 60 triệu, thuộc trong trường hợp tại điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015 nên sẽ chịu mức phạt từ từ 03 năm đến 10 năm. Hăm dọa là gì?Hành vi hăm dọa người khác có phạm tội?Làm gì khi bị hăm dọa?Thực tế hiện nay có nhiều người không may bị kẻ khác có hành vi hăm dọa, làm ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần và cuộc sống. Do đó mà câu hỏi được đặt ra là Hành vi hăm dọa người khác có phạm tội?Chúng tôi sẽ giúp quý bạn đọc giải đáp vấn đề này thông qua bài viết Hành vi hăm dọa người khác có phạm tội?Hăm dọa là gì?Hăm họa hay còn được dùng với từ phổ biến hơn là đe dọa. Đe dọa là Hành vi uy hiếp tinh thần người khác qua việc thông báo trước bằng những cách khác nhau sẽ làm hoặc không làm việc bất lợi cho họ hoặc cho người thân thích của họ nếu không thỏa mãn các đòi hỏi nhất thực hiện hành vi đe dọa thường dùng các cách thức khác nhau. Có thể là dùng vũ lực, đe dọa tố giác, đe dọa hủy hoại tài sản… Hình thức đe dọa có thể trực tiếp, qua thư, qua điện thoại… Các đòi hỏi của kẻ đe dọa có thể là đòi giao tài sản, đòi cho được giao cấu…Hành vi hăm dọa người khác có phạm tội?Hành vi đe dọa có phạm tội không là một câu hỏi khá rộng, chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề này như sau– Hành vi hăm dọa người khác có thể bị xử phạt hành chínhHành vi hăm dọa người khác được biểu hiện bằng các hành vi có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác mà chưa có những dấu hiệu để cấu thành tội phạm thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành cứ điểm a khoản 1 điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình“ 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ đồng đến đồng đối với một trong những hành vi sau đâya Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;”– Hành vi hăm dọa người khác có thể bị xử lý hình sựCăn cứ điều 8 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017“ 1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.”Hành vi hăm dọa người khác có phải là phạm tội không cần căn cứ vào các cấu thành tội phạm của hành vi, bao gồm khách thể của tội phạm, mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể thực quy định tại điều 133 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 “ 1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năma Đối với 02 người trở lên;b Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;c Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;d Đối với người dưới 16 tuổi;đ Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.”Các yếu tố cấu thành tội đe dọa giết người+ Khách thể Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến quyền được bảo vệ về tính mạng của công dân.+ Mặt chủ quan Người phạm tội đã thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Phương pháp, thủ đoạn thực hiện hành vi đe dọa. Trạng thái tâm lý, xử sự của người bị đe dọa sau khi bị đe dọa. Số lần đe dọa và khả năng thực hiện các hành vi đó của người đe dọa.+ Mặt khách quan Có hành vi làm cho người bị đe dọa biết được khả năng tính mạng của họ sẽ bị xâm phạm+ Chủ thể Chủ thể của tội đe dọa giết người là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình gì khi bị hăm dọa?Khi không may bị hăm dọa, làm ảnh hưởng đến tinh thần và cuộc sống của mình bạn có thể làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan công an có thẩm quyền hoặc có thể khởi kiện dân sự vì người đó có hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, tinh thần của bạn. Cùng với đó bạn yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi hăm dọa này gây ra đối với ý rằng, khi thực hiện việc tố cáo hoặc khởi kiện người có hành vi hăm dọa mình bạn cần có đầy đủ chứng cứ chứng minh các hành vi bị đe dọa, những tổn thất mà bạn phải gánh đây là nội dung bài viết về Hành vi hăm dọa người khác có phạm tội? Chúng tôi hi vọng sẽ cung cấp những thông tin bổ ích đến bạn đọc. Chúng tôi sẽ gửi đến bạn đọc những thông tin bổ ích khác trong các bài viết tiếp theo. Tội đe doạ tính mạng người khác theo quy định của Bộ luật Hình sự được phân tích và chia sẻ thực tiễn xét xử qua bài viết sau của Luật sư Nguyễn Hồng Quân. LUẬT SƯ NGUYỄN HỒNG QUÂN LÀ LUẬT SƯ CHUYÊN GIẢI QUYẾT ÁN HÌNH SỰ, NHÀ ĐẤT. Với phương châm làm việc "chọn việc Đúng - Đáng - Đàng hoàng- Đặt Lợi Ích Khách Hàng Lên Hàng Đầu" kết hợp với bề dày kinh nghiệm trong việc tư vấn, tranh tụng, hỗ trợ pháp lý cho các khách hàng trong các vụ án hình sự, kinh tế lớn. Đe dọa tính mạng người khác là hành vi của một người bằng lời nói, hành động hoặc những thủ đoạn khác làm cho người khác lo sợ rằng mình có khả năng bị giết. Việc đe dọa được thực hiện nhằm khống chế ý chí của người bị đe dọa. Theo quy định tại Bộ luật Hình sự hiện hành, hành vi đe doa tính mạng người khác là hành vi khách quan được quy định tại Điều 133 về tội đe dọa giết người “Điều 133. Tội đe dọa giết người1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năma Đối với 02 người trở lên;b Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;c Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;d Đối với người dưới 16 tuổi;đ Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.”Theo quy định trên, các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm của tội này như sau1. Chủ thể của tội đe doạ giết ngườiChủ thể của tội đe dọa giết người theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 Bộ luật Hình sự là các cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đến độ tuổi luật định“Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”Như vậy theo quy định trên, đối với tội đe dọa giết người, cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi vi phạm.>> Thông tin hữu ích Top 10 Luật sư Hình sự nổi tiếng và uy tín tại Thành phố Hồ Chí 10 Luật sư Hình sự nổi tiếng và uy tín tại Hà Khách thể của tội đe doạ giết ngườiKhách thể của tội đe dọa giết người là tính mạng, quyền sống của con người. Mặc dù người phạm tội không có mục đích giết người khi thực hiện hành vi đe dọa, nhưng việc làm cho người bị đe dọa lo sợ và tin rằng mình sẽ bị giết cũng được xem là xâm phạm đến quyền sống của người Mặt khách quan của tội đe doạ giết ngườiHành vi khách quan của tội đe dọa giết người là hành vi làm cho người bị đe dọa lo sợ bằng các cách thức, phương tiện, thủ đoạn khác nhau như lời nói, hành động, ánh mắt,... Mục đích của người phạm tội khi thực hiện hành vi đe dọa là làm cho người bị đe dọa tin và lo sợ rằng mình có thể bị giết chứ không phải để thực hiện việc giết người. Hành vi đe dọa của người phạm tội phải làm cho người bị đe dọa tin rằng hành vi đe dọa đó sẽ được thực hiện nếu như người bị đe dọa không làm theo ý của người phạm tội. Đây là dấu hiệu đặc trưng của loại tội này. Chính vì mục đích làm cho người bị đe dọa tin rằng người phạm tội sẽ thực hiện hành vi giết người nên người phạm tội sẽ cố tình để cho người bị đe dọa nhìn thấy hoặc người khác nhìn thấy mà người phạm tội biết rằng người này sẽ nói lại cho người bị đe dọa biết việc mình đang thực hiện một số hành vi để chuẩn bị cho việc giết người như tìm công cụ, phương tiện để giết người. Nếu người phạm tội có hành vi đe doạ, nhưng hành vi đó chỉ là phương pháp để thực hiện một tội phạm khác, nhằm mục đích khác thì không phải là phạm tội đe doạ giết người. Đối với tội này, người bị đe doạ có thể lo sợ mình bị giết và cũng có thể lo sợ người thân của mình bị giết miễn là họ tin rằng hành vi đe doạ của người thực hiện hành vi phạm tội sẽ được thực hiện thì vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó chỉ cần một người thực hiện hành vi phạm tội và hành vi đó thỏa mãn cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chứ không bắt buộc phải có hậu quả xảy ra.>> Đặt câu hỏi MIỄN PHÍ với Luật sư toàn Mặt chủ quan của tội đe doạ giết ngườiTội đe dọa giết người được thực hiện do cố ý, tức là người thực hiện hành vi phạm tội biết hành vi đe dọa giết người là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, đồng thời mong muốn người bị đe dọa sẽ lo sợ và tin rằng mình có thể sẽ bị giết. Do đó tội này được thực hiện do cố ý trực cần tư vấn về pháp luật về Hình sự, bạn có thể liên hệ Luật sư Nguyễn Hồng Quân theo thông tin sauVăn phòng 1 Số 168 đường Láng, phường Thịnh Quang, quận Đống Đa; Hà phòng 2 Số 102 Nguỵ Như Kon Tum, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà thoại 0989 815 198 Luật sư QuânEmail BỊ ÔNG ANH RỂ ĐE DOẠ TÍNH MẠNG THÌ PHẢI LÀM SAO?Xin chào luật sư. Tôi đang mang bầu 5 tháng, hôm 14/9/2018 tôi có sảy ra cãi nhau với ông anh rể chị gái tôi đã đâm đơn ly hôn anh rể tôi từ hồi tháng đầu tháng 8, do bị ông đấy đánh. Trong khi cãi nhau ông đấy có đe dọa tôi và hôm nay lúc 7h30 sáng ngày 17/9/2018 tôi thấy ông anh rể tôi có đi qua công ty tôi và theo lịch trình thì ông đấy chưa bao giờ đi qua công ty tôi. Theo tôi nghĩ ông ta đang thăm dò lịch trình đi lại của tôi để hành động. Thưa luật sư với trường hợp này tôi nên làm thế nào ạ?Rất mong luật sư tư vấn và giúp đỡ vì nếu tôi có 1 mình thì không sao nhưng tôi đang mang thai nên rất lo Luật sư ĐOÀN VĂN NÊN tư vấn trường hợp bị anh rể đe doạ tính mạngChào bạn, chúng tôi xin phép đưa ra tư vấn dựa trên những dữ liệu bạn đã cung cấp như sauNgày 14/09/2018, bạn và anh rể đã xảy ra mâu thuẫn, dẫn tới việc anh rể của bạn có những lời lẽ đe dọa đến tính mạng của bạn. Những lời lẽ đó có bị coi là đe dọa giết người hay không khi nội dung thể hiện việc sẽ tước đoạt tính mạng của bạn. Nội dung có thể không đề cập đến cách thức sẽ giết người như thế nào hoặc được mô tả cụ thể như sẽ đốt nhà, gây tai nạn giao thông, bắn, đâm… song làm bạn bị đe dọa lo sợ rằng việc này sẽ được thực đó, việc dùng lời lẽ mang tính đe dọa giết người kết hợp cùng các hành động khác nhằm làm nạn nhân biết việc này có thể xảy thì người nhắn tin sẽ bị khép vào tội Đe dọa giết người, theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nếu có hành vi đe dọa giết người nhưng người bị đe dọa chưa thực sự lo lắng hậu quả sẽ xảy ra thì không cấu thành tội phạm dùng lời lẽ không mang tính đe dọa giết người mà chỉ là những lời đe dọa thông thường nhằm ép buộc người khác phải thực hiện các yêu sách thì hành vi này không phạm tội hình sự nhưng bị xử phạt hành chính. Điều này được quy định tại Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP về quy phạm trật tự công cộng như sau "1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ đồng đến đồng đối với một trong những hành vi sau đâya Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;\"Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn cần làm đơn tố cáo hành vi vi phạm của kẻ đe dọa tới cơ quan điều tra công an quận, trường hợp có đủ cơ sở xử lý về hình sự, cơ quan điều tra sẽ khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với người vi phạm. Nếu vi phạm có dấu hiệu phạm tội hình sự nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan công an ra quyết định xử phạt hành chính đồng thời áp dụng một số biện pháp khác theo quy định của pháp luật buộc người vi phạm chấm dứt hành nhiên ,để có chứng cứ nộp kèm theo đơn tố cáo, bạn cần cung cấp cho cơ quan điều tra các chứng cứ cho rằng anh rể bạn làm khủng bố tinh thần bạn , các biên bản làm việc của công an xã, phường về việc kẻ đe dọa. Ngoài ra, bạn có thể cung cấp cho cơ quan điều tra lời khai của các nhân chứng để cơ quan điều tra có thêm thông tin khi giải quyết vụ Luật sư NGUYỄN THANH NGỌC tư vấn trường hợp bị anh rể đe doạ tính mạng Chào bạn Nguyễn Thị Thu HươngVề nội dung câu hỏi của bạn, tôi xin trả lời như sau Bạn cho rằng anh rể của bạn có hành vi đe dọa tính mạng của bạn , và còn có hành vi theo dõi đến chổ làm của bạn. Sự việc này không có đủ căn cứ để chứng minh cho anh rể của bạn có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của bạn yên tâm có tinh thần tốt trong thời gian mang thai, thì bạn nên đến công an phường hoặcxã nơi ở của bạn và nơi ở của anh rể bạn trình báo sự việc kèm theo nội dung yêu hành vi anh rể của bạn có hành vi đe dọa công an có hình thức xử lý phù hợpThân Luật sư TRẦN ĐÌNH DŨNG tư vấn trường hợp bị anh rể đe doạ tính mạngBạn Nguyễn Thị Thu Hương mến!Như trên bạn trình bày, anh rể bạn chỉ ghé ngang công ty nơi bạn làm việc. Như vậy thì anh rể bạn chưa có hành vi gì vi phạm pháp luật cả. Nên các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng không có căn cứ để can nhiên do có mâu thuẫn gia đình cãi vã nhau và bản thân đang mang bầu nên bạn có cảm giác lo có thể viết \"Đơn trình báo\" gửi công an phường xã, thị trấn nơi bạn làm việc. Trường hợp này cơ quan công an chỉ ghi nhận sự việc bạn nghi ngờ mà thôi. Sau đó nếu anh rể bạn có hành vi có dấu hiệu đe dọa bạn như chặn đường bạn, tới công ty bạn có lời lẽ đe dọa... thì CA mới can thiệp bằng cách mời về trụ sợ để làm rõ và xử lý tùy vào mức độ hành dung đơn bạn cần phải trình bày hết các mâu thuẫn và sự nghi ngờ, lo sợ của nên đến bác sĩ để được hướng dẫn trấn an thêm về sức khỏe vì cảm giác lo sợ sẽ không tốt cho thai bạn khỏe và an lành!Bạn vẫn còn thắc mắc? Hơn 400 Luật sư chuyên về Hình sự trên iLAW đang sẵn sàng hỗ trợ bạn. Hãy chọn ngay một Luật sư gần bạn, và liên hệ với Luật sư đó để được tư vấn miễn TIN LIÊN QUANDanh bạ Luật sư Hình sựThi hành án hình sựHoãn thi hành ánThủ tục giám định thương tật Thế nào là hăm dọa, đe dọa người khác? Xử lý hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi hăm dọa, đe dọa người khác?Mỗi người đều có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm, vì thế mà không ai có quyền xâm phạm đến các quyền cơ bản này của con người. Thường thấy trong cuộc sống hằng ngày việc giữa các mối quan hệ giữa người với người thường xảy ra bất đồng, mâu thuẫn, nhiều trường hợp các cá nhân thực hiện hành vi hăm dọa, đe dọa người khác. Vậy câu hỏi đặt ra là hăm dọa, đe dọa người khác có phải là hành vi vi phạm pháp luật. Bài viết dưới đây của Luật Dương Gia sẽ đi vào tìm hiểu những quy định của pháp luật về vấn đề này. Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài Mục lục bài viết 1 1. Thế nào là hăm dọa, đe dọa người khác? 2 2. Hành vi hăm dọa, đe dọa người khác bị xử lý hành chính như thế nào? 3 3. Trách nhiệm hình sự đối với hăm dọa, đe dọa người khác 1. Thế nào là hăm dọa, đe dọa người khác? Để làm rõ về khái niệm hăm dọa, đe dọa người khác, ta có thể nhìn lại những hành vi thường xảy ra trong thực tế cuộc sống. Khi các cá nhân có mâu thuẫn với nhau, nhiều trường hợp hòa giải, thiện chí để giải quyết vấn đề nhưng cũng có những trường hợp có những cá nhân không xử lý theo pháp luật mà thực hiện việc đe dọa người khác, nhiều trường hợp có những người vô cớ đe dọa người khác. Vậy thế nào là hăm dọa, hành vi như thế nào được coi là hăm dọa? Hăm dọa hay đe dọa đều được hiểu giống nhau là hành vi dùng lời nói hoặc hành động để uy hiếp tinh thần người khác, ép buộc người này phải làm những việc nhất định mang lại lợi ích cho mình hoặc đẩy nhanh việc người này phải thực hiện nghĩa vụ cho mình, nếu người này không thực hiện thì sẽ phải chịu những hậu quả nhất định. Đe dọa thường thấy là đe dọa về tinh thần và thể chất đối với người bị đe dọa, người thực hiện hành vi đe dọa sẽ đe dọa nhiều hình thức khác nhau. Đe dọa có thể bao gồm dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, đe dọa tố giác, đe dọa hủy hoại tài sản… Những hình thức đe dọa có thể được người đe dọa thực hiện là đe dọa trực tiếp, đe dọa qua thư, đe dọa qua điện thoại…Đối tượng của đe dọa có thể là hành vi đe dọa đòi tài sản, đe dọa thực hiện các hành vi trái pháp luật, đe dọa tống tiền, đe dọa để được giao cấu người khác… 2. Hành vi hăm dọa, đe dọa người khác bị xử lý hành chính như thế nào? Như đã đề cập ở trên, không ai có quyền xâm phạm đến thân thể, danh dự và nhân phẩm của người khác. Điều này đồng nghĩa với việc đe dọa đến người khác là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, phụ thuộc vào hành vi đe dọa người khác ở mức độ nào mà người thực hiện hành vi đe dọa sẽ bị xử lý ở mức độ tương ứng với hành vi và hậu quả gây ra. Trường hợp hành vi đe dọa người khác chưa đến mức phạm tội thì có thể sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình. Theo đó tại Điểm a khoản 1 điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình quy định như sau “ 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ đồng đến đồng đối với một trong những hành vi sau đây a Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;” Như vậy, đối với các hành vi có tính chất thô bạo, đụng chạm đến thân thể người khác ví dụ xô đẩy, tát, nắm giật tóc… hay có các lời nói bỡn cợt, xúc phạm danh dự nhân phẩm trêu ghẹo, nhục mạ, có những lời nói vu khống, khiêu khích tinh thần của người khác, nói những lời sai sự thật, vu khống nhằm thực hiện mục đích xấu với người khác thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Mức xử phạt đối với những hành vi vi phạm này là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ đồng đến đồng. Lưu ý phân biệt được các hành vi vi phạm hành chính và tội phạm Dựa vào mức độ của hành vi để phân biệt hành vi đe dọa là hành vi vi phạm hành chính hay là hành vi phạm tội theo quy định của Bộ Luật Hình sự 2015. Như đã nói, hành vi đe dọa để bị xử phạt vi phạm hành chính chỉ dừng lại ở những hành vi có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng, chưa có những dấu hiệu để cấu thành tội phạm thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Còn đối với những hành vi gây ra hậu quả nghiêm trọng hay có tính chất của tội phạm thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự. 3. Trách nhiệm hình sự đối với hăm dọa, đe dọa người khác Hành vi hăm dọa, đe dọa người khác nếu gây ra hậu quả cho người khác nếu có đủ các dấu hiệu tội phạm thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. Các hành vi đe dọa, hăm dọa được coi là tội phạm khi các hành vi này được xem là nguy hiểm cho xã hội. Khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo quy định tại Điều 8 Bộ Luật hình sự năm 2015 thì khái niệm tội phạm được hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự. Hiểu rõ hơn thì hành vi nguy hiểm xã hội là những hành vi trái với quy định pháp luật, khi thực hiện những hành vi này, người thực hiện hành vi có thể gây nguy hại cho người khác và cho xã hội. Thực hiện hành vi nguy hiểm là yếu tố đầu tiên, tuy nhiên để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự thì những người thực hiện các hành vi này phải do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện. Những hành vi phạm tội được quy định đương nhiên được thực hiện bởi lỗi cố ý hoặc vô ý tùy từng tội khác nhau. Những hành vi phạm tội này xâm phạm đến những mối quan hệ này được pháp luật công nhận và bảo vệ, cụ thể “xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” Điều 8 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Như đã phân tích ở mục trên, những hành vi chưa có dấu hiệu phạm tội thì sẽ bị xử lý trách nhiệm hình sự còn những hành vi chưa có tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác phạt cảnh cáo, phạt tiền…. Để xác định hành vi đe dọa người khác có phải là hành vi phạm tội hay không thì cần căn cứ vào các cấu thành tội phạm của hành vi, để xác định tội phạm thì sẽ bao gồm khách thể của tội phạm, mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể thực hiện đối với hành vi phạm tội. Về hành vi đe dọa người khác, pháp luật nước ta có quy định tại điều 133 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 về hành vi vi đe dọa giết người. “ 1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm a Đối với 02 người trở lên; b Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; c Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; d Đối với người dưới 16 tuổi; đ Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.” Theo quy định tại điều luật trên thì đe dọa giết người là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực pháp luật thực hiện đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, được thực hiện bởi lỗi cố ý và hành vi này không xét đến hậu quả đã xảy ra hay chưa. – Về khách thể của tội đe dọa giết người là đối tượng mà hành vi phạm tội hướng đến, chính là tính mạng của công dân. – Về mặt khách quan của tội đe dọa giết người người thực hiện hành vi phạm tội đe dọa người khác, làm cho người đó biết được và nhận thấy được rằng tính mạng của họ có nguy cơ bị xâm phạm. – Về chủ thể của tội đe dọa giết người là người có năng lực trách nhiệm hình sự tức đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. – Về mặt chủ quan của tội đe dọa giết người Người thực hiện hành vi phạm tội đã thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Cụ thể người này dùng các phương pháp, thủ đoạn thực hiện hành vi đe dọa như đe dọa bằng lời nói, bằng hành động, dùng các hung khí để de dọa… Khi thực hiện hành vi đe dọa giết người và đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì người thực hiện hành vi này sẽ phải chịu khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, nếu như có các tình tiết tăng nặng khác thì có thể chịu hình phạt 02 đến 07 năm tù. Như vậy, hành vi đe dọa người khác là vi phạm pháp luật, phụ thuộc vào mức độ của hành vi mà sẽ bị xử lý hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự. Nạn nhân bị người khác hăm dọa, đe dọa có thể bảo vệ mình bằng cách trình báo sự việc lên cơ quan công an địa phương để cơ quan công an tiến hành điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân. Cách đây 2 ngày có một người tự xưng công ty thu hồi nợ ở đòi món nợ hàng chục triệu đồng, yêu cầu tôi phải chuyển trả, tôi chưa từng vay của công ty này, tôi nói không vay không trả thì lại đe dọa uy hiếp với gia đình tôi, đăng hình bảo tôi quỵt nợ lên facebook vợ tôi. Quy định của pháp luật có điều chỉnh đối với hành vi này hay không? Tôi cảm ơn! Hành vi nhằm ép buộc người khác trả một khoản nợ khống có phải dấu hiệu cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”? Sử dụng mạng xã hội khủng bố nhằm mục đích xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác bị phạt như thế nào? Gọi điện, nhắn tin khủng bố nhằm vu khống cá nhân, tổ chức có hành vi chiếm đoạt tài sản thì phạm tội gì? Phạt hành chính đối với hành vi đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm người khác trên mạng xã hội? Hành vi nhằm ép buộc người khác trả một khoản nợ khống có phải dấu hiệu cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”?Theo Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015 về tội "Cưỡng đoạt tài sản" như sau- Cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài Hành vi này có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 05 Hành vi Cưỡng đoạt tài sản bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm trong trường hợp phạm tội+ Có tổ chức;+ Có tính chất chuyên nghiệp;+ Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;- Hành vi Cưỡng đoạt tài sản bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm trong trường hợp phạm tội+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ đồng đến dưới đồng;+ Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để phạm tội- Hành vi cưỡng đoạt tài sản bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm+ Chiếm đoạt tài sản trị giá đồng trở lên;+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ đồng đến đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài Tại Điều 15 Bộ Luật Hình sự 2015 về phạm tội chưa đạt+ Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.+ Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa vậy, hành vi gọi điện đe dọa ép buộc người khác trả một khoản nợ không phải của mình có thể cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản với mức phạt lên đến 20 năm vi đòi nợ, đe dọa, khủng bố người thân của người khác bằng mọi hình thức có thể bị xử lý hình sự?Sử dụng mạng xã hội khủng bố nhằm mục đích xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác bị phạt như thế nào?Theo Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 được thay thế bởi điểm e khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định- Hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác sẽ bị cấu thành tội làm nhục người Mức xử phạt bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ đồng đến đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm- Tội làm nhục người khác trong các trường hợp sau đây bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm + Phạm tội 02 lần trở lên;+ Đối với 02 người trở lên;+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;+ Đối với người đang thi hành công vụ;+ Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;+ Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;+ Làm nạn nhân tự vậy, sử dụng mạng xã hội khủng bố nhằm mục đích xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác có thể bị cấu thành tội làm nhục người khác, tùy theo mức độ nghiệm trọng sẽ bị xử phạt đến 05 năm tù điện, nhắn tin khủng bố nhằm vu khống cá nhân, tổ chức có hành vi chiếm đoạt tài sản thì phạm tội gì?Theo Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 bị thay thế bởi điểm e khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định- Hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu Mức phạt đối với hành vi vu khống người khác bị phạt tiền từ đồng đến đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm+ Có tổ chức;+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;+ Đối với 02 người trở lên;+ Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;+ Đối với người đang thi hành công vụ;+ Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;+ Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm+ Vì động cơ đê hèn;+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;+ Làm nạn nhân tự Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ đồng đến đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 vậy, đối với hành vi gọi điện, nhắn tin hoặc khủng bố nhằm chỉ trích người khác chiếm đoạt tài sản có thể bị truy cứu về tội vu hành chính đối với hành vi đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm người khác trên mạng xã hội?Trong trường hợp có các hành vi tương tự như trên nhưng chưa đến mức xử lý trách nhiệm hình sự thì người có hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm g khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 3/2/2020 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử như sau "Điều 102. Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin...3. Phạt tiền từ đồng đến đồng đối với một trong các hành vi saua Truy nhập, sử dụng, tiết lộ, làm gián đoạn, sửa đổi, phá hoại trái phép thông tin, hệ thống thông tin;b Không thực hiện các biện pháp cần thiết để ngăn chặn việc truy nhập thông tin hoặc loại bỏ thông tin trái pháp luật theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi truyền đưa hoặc cho thuê chỗ lưu trữ thông tin số;c Không thực hiện yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xác định danh sách chủ sở hữu thuê chỗ lưu trữ thông tin số;d Không bảo đảm bí mật thông tin của tổ chức, cá nhân thuê chỗ lưu trữ thông tin số trừ các trường hợp cung cấp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;đ Không thực hiện các biện pháp quản lý, kỹ thuật cần thiết để bảo đảm thông tin cá nhân không bị mất, đánh cắp, tiết lộ, thay đổi hoặc phá hủy khi thu thập, xử lý và sử dụng thông tin cá nhân của người khác trên môi trường mạng;e Thu thập, xử lý và sử dụng thông tin của tổ chức, cá nhân khác mà không được sự đồng ý hoặc sai mục đích theo quy định của pháp luật;g Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;h Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục bị cấm;i Ngăn chặn trái pháp luật việc truyền tải thông tin trên mạng, can thiệp, truy nhập, gây nguy hại, xóa, thay đổi, sao chép và làm sai lệch thông tin trên mạng;k Không tiến hành theo dõi, giám sát thông tin số của tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;l Không hợp tác, phối hợp điều tra các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong quá trình truyền đưa hoặc lưu trữ thông tin số của tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;m Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;n Giả mạo tổ chức, cá nhân và phát tán thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;o Chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa trên mạng dưới bất kỳ hình thức nào;p Cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa trên mạng;q Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật;r Thu giữ thư, điện báo, điện tín trái pháp luật."Như vậy, hành vi cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác có thể bị phạt tiền từ 10 đến 20 triệu đồng.

hành vi đe doạ người khác